Biến chứng phẫu thuật đục thủy tinh thể

Biến chứng phẫu thuật đục thủy tinh thể thường gặp

Phẫu thuật thay thủy tinh thể nhân tạo khá an toàn, tỷ lệ thành công cao nhưng biến chứng phẫu thuật đục thủy tinh thể không phải hoàn toàn không xảy ra. Một số biến chứng phẫu thuật đục thủy tinh thể thường gặp.

Biến chứng phẫu thuật đục thủy tinh thể thường gặp
Biến chứng phẫu thuật đục thủy tinh thể thường gặp

1. Đục bao sau sau phẫu thuật đục thủy tinh thể

Một trong những biến chứng phẫu thuật đục thủy tinh thể phổ biến nhất là tình trạng đục bao sau hay còn gọi là “đục thủy tinh thể thứ cấp”.

Trong quá trình phẫu thuật đục thủy tinh thể, thay thế bằng thủy tinh thể nhân tạo, bác sĩ sẽ loại bỏ thủy tinh thể bị đục và thay thế nó bằng thủy tinh thể nhân tạo – ống kính nội nhãn IOL.

Đục bao sau sau phẫu thuật đục thủy tinh thể
Đục bao sau sau là biến chứng phẫu thuật đục thủy tinh thường gặp

Phần lớn các màng mỏng bao quanh thủy tinh thể tự nhiên (bao sau và một phần bao trước) được giữ nguyên vẹn trong quá trình phẫu thuật và IOL thường được cấy bên trong nó .

Tuy nhiên khoảng 20% số trường hợp, bao sau của thủy tinh thể trở nên mờ sau vài tháng phẫu thuật hoặc thậm chí vài ngày. Tình trạng này xảy ra do tế bào biểu mô của bao sau tăng sinh, làm cản trở đường truyền của tia sáng đến võng mạc, gây ra dấu hiệu nhìn mờ, giảm thị lực tương tự hoặc nặng nề hơn so với trước khi phẫu thuật.

Để điều trị đục bao sau sau mổ thay thủy tinh thể, người bệnh cần phát hiện sớm tình trạng bệnh. Nếu phát hiện sớm, người bệnh hoàn toàn có thể cải thiện được tình trạng đục bao sau bằng phương pháp chiếu laser (YAG laser capsulotomy), thường được thực hiện tại các bệnh viện hoặc phòng khám chuyên khoa mắt.

Xem thêm:

–   Đục thủy tinh thể ở trẻ em: Nguyên nhân và cách điều trị

–   Cách điều trị viễn thị ở trẻ em

–   4 nguyên nhân gây nên tật viễn thị

–   7 dấu hiệu nhận biết trẻ bị cận thị

Đầu tiên, đồng tử được mở rộng bằng thuốc nhỏ mắt, dưới năng lượng của tia laser, phần bao sau bị đục được loại bỏ một cách nhanh chóng, hoàn toàn không gây đau đớn cũng như khó chịu. Cuối cùng, các bác sĩ có thể chỉ định sử dụng thêm thuốc nhỏ mắt kháng viêm sau điều trị.

Người bệnh có thể tỉnh trong quá trình phẫu thuật laser, nhưng với những trường hợp như trẻ em, người bị rối loạn tâm thần cần phải được gây mê. Thị lực mắt có thể được khôi phục sau một vài ngày, một số trường hợp có thể thấy xuất hiện chấm hoặc vệt đen, nhưng nó sẽ hết trong vòng một vài tuần. Tuy nhiên, nếu tình trạng này kéo dài, mắt bị mờ hơn, người bệnh cần quay lại bệnh viện để kiểm tra.

Rủi ro lớn nhất khi sử dụng laser YAG là tình trạng bong võng mạc. Thống kê cho thấy, khoảng 1% người Mỹ gặp biến chứng bong võng mạc sau phẫu thuật đục thủy tinh thể. Con số này tăng lên khoảng 2% sau khi chiếu tia laser YAG.

2.Lệch thủy tinh thể nhân tạo sau phẫu thuật đục thủy tinh thể

Một biến chứng phẫu thuật đục thủy tinh thể khác đó là ống kính nội nhãn bị lệch khỏi vị trí sau khi đặt. Trường hợp nặng, thị lực của bạn có thể giảm đáng kể.

Trong hầu hết các ca mổ thay thủy tinh thể, bác sĩ sẽ cố định ống kính nội nhãn trong các lớp “túi nang” ở phần bao sau. Họ sẽ cố gắng để duy trì tính toàn vẹn của các “túi nang” để ống kính nội nhãn được định vị một cách chính xác.

Tuy nhiên, các túi nang lại rất mỏng và dễ vỡ. Ngoài ra, bản thân các túi nang cũng dễ bị suy yếu hoặc đứt các sợi dây chằng (sợi zonules – có vai trò giữ cố định ống kính tại chỗ).

Lệch thủy tinh thể nhân tạo sau phẫu thuật đục thủy tinh thể
Lệch thủy tinh thể nhân tạo là biến chứng phẫu thuật đục thủy tinh thường gặp

Khi xảy ra tình trạng trật ống kính nội nhãn, bác sĩ có thể định vị lại bằng cách khâu ống kính nội nhãn vào các mô ở phần bao sau hoặc cấy ghép bằng một ống kính khác (thay thủy tinh thể lần 2).

Nếu lệch ống kính nội nhãn xảy ra ngay sau phẫu thuật, việc tái định vị nên được thực hiện sớm, bởi khoảng 3 tháng sau phẫu thuật, vị trí đặt lệch có thể tạo thành mô sẹo và lúc này việc điều trị sẽ trở nên khó khăn hơn.

Khi bị lệch ống kính nội nhãn, cơ hội để đưa ống kính nội nhãn về đúng vị trí và cải thiện thị lực sẽ tốt hơn nếu phát hiện kịp thời.

3. Các biến chứng phẫu thuật đục thủy tinh khác

Ngoài các biến chứng trên, sau phẫu thuật đục thủy tinh thể có thể xảy ra tình trạng viêm, nhiễm trùng hoặc xuất huyết bên trong mắt dẫn đến giảm thị lực trầm trọng.

Bong võng mạc là biến chứng phẫu thuật đục thủy tinh nguy hiểm
Bong võng mạc là biến chứng phẫu thuật đục thủy tinh nguy hiểm

Một số biến chứng phẫu thuật đục thủy tinh thể có thể xảy ra sau đó khá lâu, ví dụ bong võng mạc có thể xảy ra sau nhiều tháng, thậm chí nhiều năm sau khi phẫu thuật thành công.

Bong võng mạc có thể được điều trị dứt điểm nếu phát hiện sớm, tuy nhiên vẫn có tỷ lệ nhỏ để lại di chứng là thị lực giảm hoặc mất vĩnh viễn. Dấu hiệu nhận biết bong võng mạc có thể là nhìn thấy “ruồi bay”, lóa sáng, giảm thị lực đột ngột…

Các biến chứng phẫu thuật đục thủy tinh thể khác gần như không đáng kể và có thể bao gồm:

– Phù giác mạc hoặc võng mạc

– Tăng nhãn áp

– Sụp mí mắt (ptosis)

Trên đây là những biến chứng phẫu thuật đục thủy tinh thể. Phần lớn bệnh nhân phẫu thuật đục thủy tinh thể có thể khôi phục lại thị lực đến 8 – 9 phần. Nhưng nếu họ đang mắc các bệnh như thoái hóa điểm vàng, bệnh võng mạc do tiểu đường… thì thị lực có thể không được cải thiện mà cần điều trị tốt cả các bệnh lý kể trên.

Bình Luận

Your email address will not be published. Required fields are marked *